Cam thảo – Cây thuốc trị viêm loét dạ dày hiệu quả

Nhiều thầy thuốc còn tín nhiệm cam thảo hơn hẳn các thuốc loại thuốc kháng axit trong việc chữa trị viêm loét dạ dày cho các bệnh nhân.

Ngoài được sử dụng như một thức uống giải khát để giải nhiệt cơ thể, cam thảo còn được coi là một cây thuốc trị bách bệnh rất có lợi cho sức khỏe.

- Điều trị loét dạ dày: Cam thảo kích thích sự phòng thủ của cơ thể để ngăn chặn sự hình thành các vết loét. Đặc biệt nhiều thầy thuốc còn tín nhiệm cam thảo hơn hẳn các thuốc loại thuốc kháng axit khác trong điều trị viêm loét dạ dày.


 Theo các nghiên cứu thì có 91% các bệnh nhân thành công trong điều trị viêm loét dạ dày bằng cách sử dụng cam thảo. Tuy nhiên, việc điều trị viêm loét dạ dày nên tiếp tục được điều trị thêm từ 8-16 tuần sau khi bệnh khỏi hẳn.

Cam thảo cần được ăn/ hoặc uống khoảng 20-30 phút trước bữa ăn để việc điều trị hiệu quả hơn các vết loét vì lúc ấy cam thảo sẽ hoạt động như một lớp màng trong dạ dày, từ đó giúp bảo vệ dạ dày của bạn.


Ngoài ra, cam thảo giúp duy trì mức độ axit trong dạ dày từ đó nó kiểm soát trọng lượng cơ thể hiệu quả.

- Điều trị bệnh hô hấp: cam thảo có chất chống dị ứng đó là điều cần thiết để điều trị chứng rối loạn hô hấp ở trẻ em và người lớn.

-Tác dụng chống viêm: cam thảo có chứa nhiều cortisone – một hormone chữa viêm và dị ứng rất lành tính và không có tác dụng phụ tiêu cực.


- Giảm sốt: Khi kết hợp cùng một số loại thảo dược khác như kinh giới, lá tía tô, cúc tần, kim ngân, gừng.... thì cam thảo giúp hạ nhiệt và giảm sốt, cảm mạo.

- Ngoài những tác dụng phổ biến trên, cam thảo còn được coi là một loại thuốc quý tự nhiên để hỗ trợ điều trị các bệnh như:


- Bệnh mụn giộp sinh dục

- Xơ gan

- Viêm gan

- Viêm khớp

- Hội chứng khó chịu ngày tiền nguyệt san

- Hội chứng mãn kinh

- Giảm đường huyết

- Nhuận tràng

- Lợi tiểu

Cảnh báo:

Với những người bị tăng huyết áp hoặc có các vấn đề về thận thì không nên ăn/ uống cam thảo.

Nguyên nhân là do khi uống cam thảo quá nhiều, nó có thể gây ra tình trạng giữ nước và tăng huyết áp. Nếu bạn đang ở trong hoàn cảnh này thì những tác dụng phụ trên có thể được giảm đi bằng cách tăng liều lượng lớn kali và giảm hấp thụ muối ăn từ chế độ ăn uống hàng ngày!
 

Với những người bình thường, bạn cũng chỉ nên sử dụng cam thảo ở liều dùng khuyến cáo từ 1 - 2 gram/ rễ cam thảo/ ngày hoặc 0,25-0,5 gam cam thảo đã được trích xuất.
___________________________________________________________


Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

Viêm dạ dày ruột cấp tính do virut ở trẻ em

Thói quen ăn uống không đảm bảo vệ sinh có thể dẫn đến nhiều bệnh do vi khuẩn, virut gây ra, trong đó bệnh viêm dạ dày ruột do Rotavirus là bệnh hay gặp. 

Đây là những virut gây ra hội chứng tiêu chảy cấp, có thể dẫn đến tử vong nếu người bệnh không được điều trị kịp thời và còn làm cho dịch bệnh lây lan. Làm thế nào để có thể phòng ngừa được căn bệnh này? Bài viết sau đây sẽ cung cấp cho bạn đọc những hiểu biết cần thiết về bệnh.

Viêm dạ dày ruột cấp tính do virut ở trẻ em

Trong các loại virut hay gây bệnh viêm dạ dày ruột cấp tính thì nguyên nhân do Rotavirus thường gặp ở trẻ em. Bệnh xảy ra quanh năm và có thể gây thành dịch nếu các biện pháp phòng bệnh lây lan không được thực hiện tốt.

Biểu hiện bệnh được đặc trưng bởi tình trạng sốt và nôn kèm theo tiêu chảy. Nhiều trường hợp mất nước nặng có thể dẫn đến tử vong. Rotavirus là nguyên nhân chủ yếu gây ra bệnh tiêu chảy ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, có thể gặp ở nước đang phát triển hay phát triển. Trẻ từ 2- 3 tuổi là đối tượng dễ bị mắc bệnh nhất, virut này thường gây tiêu chảy nặng hơn ở trẻ em so với những tác nhân đường ruột khác. Bệnh thường kéo dài từ 4 – 6 ngày và tỷ lệ tử vong cao. Người ta ước tính tại các nước đang phát triển, hằng năm có đến gần 900.000 trường hợp tử vong do Rotavirus gây ra.

Virut Rota thuộc họ Reoviridae, gây bệnh cho trẻ chủ yếu là nhóm A nhưng ở người lớn thì hay gặp nhóm B và nhóm C thì ít gặp. Bệnh lây truyền chủ yếu theo đường phân – miệng qua tiếp xúc hoặc hô hấp. Mặc dù Rotavirus không nhân lên ở đường hô hấp nhưng có thể tìm thấy chúng ở chất tiết đường hô hấp. Trong những nguồn nước không đảm bảo vệ sinh như nước sông, nước ao hồ có rất nhiều virut này, do vậy ở vùng không có nước sạch nếu phải dùng nguồn nước này cho sinh hoạt thì sẽ tạo thuận lợi cho virut xâm nhập cơ thể và gây bệnh. Đối với những người bị bệnh, trong suốt quá trình cấp tính của bệnh và sau đó virut tiếp tục được đào thải ra ngoài qua đường tiêu hóa.

Điều trị và phòng bệnh như thế nào?

Đây là bệnh do virut gây ra nên chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Hơn nữa đây là bệnh có các dấu hiệu cấp tính ở dạ dày ruột nên khi có dấu hiệu bệnh cần được đưa đến cơ sở y tế. Mọi trường hợp tiêu chảy đều phải truyền dịch đầy đủ, tránh những biến chứng nguy hiểm như trụy tim mạch do giảm lượng tuần hoàn trong cơ thể vì thiếu nước. Thận trọng khi sử dụng thuốc kháng sinh, nhất là đối với trẻ nhỏ.

Phòng bệnh: không nên để trẻ tiếp xúc với trẻ hoặc người đang mang bệnh. Người ta cũng tiến hành cho trẻ sơ sinh thiếu cân và trẻ có hệ thống miễn dịch kém uống globulin miễn dịch. Các nghiên cứu cũng nhận thấy nếu trẻ được bú sữa mẹ đầy đủ trong 2 năm đầu có thể giảm được nguy cơ mắc bệnh.
Nhìn chung biện pháp phòng ngừa là ăn chín, uống nước đun sôi, rửa tay sạch trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh. Các chất thải của bệnh nhân cần được xử lý tốt, tránh xâm nhập vào môi trường.

________________________________________________________________


Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

Chế độ ăn trong viêm loét dạ dày

Dạ dày là bộ phận quan trọng nhất trong toàn thể bộ máy tiêu hoá, hình giống như một cái túi để đựng thức ăn, có lỗ mở ở 2 đầu; phần trên nối với thực quản gọi là tâm vị, về phần dưới nối với ruột nên gọi là môn vị. 


Cấu tạo của dạ dày gồm 4 lớp màng:
  • Màng bao bọc bên ngoài.
  • Lớp cơ gồm 3 thể: thể dài, thể vòng, thể chéo
  • Lớp màng trơn.
  • Lớp màng nhờn (niêm mạc) bao bọc toàn thể phía trong của dạ dày. Màng này bao gồm những tế bào tiết ra những chất nhờn để bảo vệ dạ dày khỏi bị acid làm hư hại. Nhưng tại màng nhờn này có loại tế bào tiết ra acid chlohiđric, là loại acid mạnh có độ PH=0,8.
Cơ chế bệnh sinh bệnh viêm loét dạ dày là đều do acid làm lở loét niêm mạc dạ dày. Những chất acid làm viêm loét dạ dày có thể do dạ dày tăng tiết hoặc do bên ngoài đưa vào. Đau dạ dày có thể do viêm dạ dày hoặc loét dạ dày. 
Viêm dạ dày cấp tính thường do dùng thuốc giảm đau như Aspirin và các thuốc giảm đau chống viêm trong bệnh xương khớp; ngoài thuốc còn do các loại thực phẩm gây kích thích niêm mạc dạ dày như: rượu, cà phê, ớt, hạt tiêu. Thêm nữa còn do các yếu tố tâm lý thần kinh bị căng thẳng, xúc động mạnh, lo âu, stress, làm cho hệ thống thần kinh bị kích thích; dẫn tới tiết nhiều acid.
Khi bị viêm loét dạ dày ngoài việc dùng thuốc, chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng, có tác động giảm tiết acid, làm giảm tác động của acid tiết ra trên niêm mạc dạ dày.
Trọng tâm của dinh dưỡng trong viêm loét dạ dày là dùng những thức ăn giảm tiết dịch vị, giảm tác dụng của acid tiết ra lên niêm mạc dạ dày:
- Chất ngọt, chất béo là những chất ít gây tiết dịch vị, dùng những thức ăn có tính bọc niêm mạc dạ dày, thấm dịch vị như gạo nếp, bột sắn, bánh mỳ, bánh quy, sữa, lòng trắng trứng.
- Dùng thức ăn mềm ít có tác dụng cơ giới.
- Không để đói, không ăn quá no. Cần ăn nhiều bữa trong ngày, mỗi bữa cách nhau từ 2-3 giờ.
- Khi chế biến thức ăn cần nghiền, xay, băm nhỏ, nấu nhừ; tăng cường luộc, hấp, hạn chế xào, rán.
Người viêm loét dạ dày nên ăn những loại thức ăn nào? Cháo, cơm nát, bánh mỳ, bánh quy, cơm nếp, bánh chưng... Các loại khoai; khoai tây, khoai sọ luộc chín hoặc hầm nhừ dưới dạng súp. Thịt cá nghiền nát, hấp hoặc om. Sữa bò hộp, sữa bò tươi, sữa bột, bơ, pho mát. Đường, bánh, mứt keo, mật ong, kem, thạch, chè. Nước uống: nước lọc, nước khoáng... 
Những loại thức ăn nào người viêm loét dạ dày không nên ăn?
Các loại thực phẩm có độ acid cao; các loại quả chua như chanh, cam bưởi chua, cà muối, dấm , mẻ, tương ớt...
Các loại thực phẩm tạo hơi trong dạ dày: các loại đậu đỗ, các loại dưa cà muối , hành...
Các loại thực phẩm làm hư hại niêm mạc dạ dày: rượu, bia, ớt, tỏi, cà phê, chè...
Các loại thức ăn tăng tiết acid: các loại nước sốt thịt, cá đậm đặc...
Không nên ăn các loại hoa quả như chuối tiêu, đu đủ, táo...và các loại thức ăn chế biến sẵn như giăm bông, lạp sườn, xúc xích...không ăn sữa chua, các loại nước ngọt có ga. 
Trong trường hợp viêm dạ dày cấp tính cần có thời gian cho dạ dày lành vết thương, vì vậy có thể nhịn ăn trong vòng 24-48 giờ vì thức ăn vào dạ dày sẽ kích thích tiết acid càng làm loét vết thương: Chỉ nên uống nước khoáng với số lượng vừa phải để khỏi khát và mất nước. Sau thời gian nhịn ăn nên ăn súp nấu với rau, thịt nghiền; uống sữa hoặc ăn kem với năng lượng từ 1200-1300 kcal. Mỗi lần ăn với số lượng ít và ăn nhiều lần cách nhau 1 giờ. Sau đó dần dần tăng số lượng cho đến khi không còn triệu chứng đau bụng, đày hơi, ợ hơi, ợ chua thì ăn uống gần như bình thường.

Trong trường hợp viêm dạ dày mãn tính, người bệnh thường bị thiếu dinh dưỡng do sự tiêu hoá hấp thu kém, không hấp thu được các loại vitamin cần thiết, đặc biệt là vitamin B12 và sắt, chất đạm, dẫn tới thiếu máu. Chế độ ăn cần phải cung cấp đày đủ năng lượng và chất đạm, đặc biệt cần bổ sung thêm các loại vitamin và muối khoáng như: acid folic, vitamin A, D, K, canxi, Fe, Zn, Mg.
Trong trường hợp loét dạ dày chế độ ăn nên chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: bắt đầu điều trị cho người loét dạ dày. Chỉ nên ăn sữa, cứ 1-2 giờ uống sữa một lần, mỗi lần chỉ khoảng 1/3-1/2 cốc (khoảng 100ml một lần). Tổng năng lượng chỉ cần 1200 Kcal. 2 đến 3 ngày sau dạ dày không thấy đau thì trộn thêm kem vào sữa để tăng thêm năng lượng.
Giai đoạn 2: khi dạ dày hết đau thì ăn những đồ mềm nhuyễn như cháo, súp mỗi lần 100 ml sau đó tăng dần lên, nên ăn 6 bữa /ngày, sau đó ăn các loại thức ăn khác như : cơm nếp, bánh mỳ, bánh quy, thịt cá nghiền nát. Khi ăn nên nhai kỹ để đồ ăn thấm nước bọt trước khi nuốt.
Giai đoạn 3: vẫn tiếp tục ăn 5-6 bữa/ngày, ăn thức ăn mềm, nấu chín nhừ. 
________________________________________________________

Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

Có nên diệt khuẩn gây viêm loét dạ dày?

Xét nghiệm cho thấy hệ tiêu hóa của tôi nhiễm khuẩn helicobacter pylori, thủ phạm gây loét dạ dày. Bác sĩ khuyên tôi nên hạn chế ăn thực phẩm chứa axit. Tuy nhiên, tôi lại phải uống thuốc lansoprazole, loại thuốc đã gây viêm đau khớp cho tôi.


Trả lời:
Vi khuẩn Helicobacter pylori là một xoắn khuẩn âm gram cư trú trong dạ dày. Thật ngạc nhiên là vi khuẩn này có thể sống trong môi trường axit như vậy và lại còn có thể gây loét dạ dày (người ta mới chỉ phát hiện ra điều này cách đây 25 năm).

Helicobacter là một trong những vi khuẩn thường gặp nhất ở người. Ở phương Tây, 30% dân số nhiễm khuẩn này và mỗi năm có 1% bị loét dạ dày hay tá tràng (đoạn đầu của ruột non, sát với dạ dày.

Tuy nhiên, không phải tất cả mọi trường hợp loét dạ dày đều do khuẩn helicobacter mà một số là do các loại thuốc như aspirin.

Hiện các nhà khoa học vẫn chưa rõ cơ chế lây truyền của loại khuẩn này. Ở các nước kém phát triển, sự lây truyền là do yếu tố vệ sinh, cha mẹ lây truyền cho con qua đường ăn uống. Mảng bám răng cũng có thể là nơi ẩn náu của loại vi khuẩn này.

Thường những bệnh chẩn đoán nhiễm khuẩn này hay phàn nàn về tình trạng trào ngược axit dạ dày, khó tiêu hóa hay đau dạ dày.

Chẩn đoán nhiễm khuẩn này khá phức tạp, đòi hỏi phải có mẫu dịch vị dạ dày để soi hay test chất ammoia qua hơi thở.

Helicobacter gây viêm dạ dày, dẫn tới loét dạ dày và có thể chuyển thành ung thư. Vì vi khuẩn này bị cho là một chất sinh ung thư, kiểu như thuốc lá gây ung thư phổi. Đó là lý do vì sao, việc điều trị triệt để rất quan trọng.

Cách điều trị hiện nay là dùng kháng sinh. Nhưng kháng sinh chỉ phát huy tác dụng với loại khuẩn này trong điều kiện không có axit trong dạ dày.

Bước đầu tiên là sẽ dùng thuốc ức chế tiết dịch vị dạ dày. Như của bạn là dùng thuốc ức chế tiết dịch vị dạ dày lansoprazole và dù nó gây ra tác dụng phụ (thực tế là rất hiếm) nhưng nó lại có tác dụng ức chế sự tiết ra proton. Tiếp đó là sẽ dùng kháng sinh 7 - 14 ngày. Nếu sau 2 tuần điều trị mà khuẩn helicobacter không bị tiêu diệt thì bác sĩ sẽ thực hiện sinh thiết tế bào để tìm ra hướng điều trị hiệu quả hơn.

Như vậy, trong trường hợp của bạn, không có cách nào khác ngoài cách điều trị trên. Vì thế đừng vội từ bỏ. Hãy trao đổi với bác sĩ đang điều trị cho bạn để được dùng một loại thuốc ít tác dụng phụ hơn.

____________________________________________________________


Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

Viêm dạ dày và những điều chưa biết

Bệnh viêm dạ dày là gì?
Viêm dạ dày là một bệnh lý tương đối rõ ràng. Nhưng thuật ngữ này thường bị lạm dụng để giải thích một số triệu chứng của hệ thống tiêu hóa như ợ chua, khó tiêu... Thực tế bệnh viêm dạ dày có thể không gây triệu chứng lâm sàng nào cả

Theo các chuyên gia y học, viêm dạ dày là hậu quả của sự kích thích niêm mạc bởi các yếu tố ngoại sinh hoặc nội sinh như: nhiễm độc chất, nhiễm khuẩn, các rối loạn miễn dịch.
Lớp niêm mạc là lớp trong cùng của dạ dày được cấu tạo bởi ba lớp: lớp tế bào biểu mô phủ, lớp đệm và lớp cơ niêm. Tùy theo từng nghiên cứu trên thế giới, tỷ lệ viêm dạ dày trong dân chúng là 15-11,5 trên 1.000 người dân.
Bệnh được chia thành 2 nhóm là viêm dạ dày cấp tính và viêm dạ dày mạn tính. Mỗi nhóm có những đặc điểm riêng.
- Viêm dạ dày cấp tính chính là tình trạng viêm cấp tính của niêm mạc dạ dày, thường có tính chất tạm thời, có thể kèm xuất huyết niêm mạc và nặng hơn có thể kèm viêm loét niêm mạc dạ dày.
- Viêm dạ dày mạn tính được xem như là tình trạng viêm của lớp niêm mạc của dạ dày, hiện tượng này diễn ra từ từ và tồn tại trong thời gian dài.
Trong thực tế khám và chữa bệnh hằng ngày, các thầy thuốc gặp chủ yếu là viêm dạ dày mạn tính. Tình trạng bệnh lý này tăng dần theo độ tuổi và chiếm tỷ lệ từ 40-70% trong bệnh lý dạ dày, tá tràng

Nguyên nhân gây viêm dạ dày mạn tính

Viêm dạ dày mạn tính có thể xảy ra do các nguyên nhân sau:
Ăn uống:
+ Nuốt nhiều, nhanh, nhai không kỹ, bữa ăn không đúng giờ giấc...
+ Ăn nhiều thức ăn có nhiễm chất các hoá học dùng trong nông nghiệp và kỹ nghệ thực phẩm.
+ Ăn nhiều gia vị ( chua, cay ), uống cà phê đặc, uống rýợu, hút thuốc lá lâu ngày sẽ tác động có hại cho niên mạc dạ dày và gây bệnh.
- Các yếu tố cơ học: hóa - lý ( phóng xạ, quang tuyến), một số thuốc nhuận tràng dùng kéo dài, các thuốc bột kiềm gây trung hoà dịch vị quá mức sẽ dẫn tới phản ứng đột biến tăng tiết a xít HCL làm tổn thương niêm mạc dạ dày.
- Các yếu tố nhiễm khuẩn: Gây viêm dạ dày mạn hoặc duy trì viêm dạ dày mạn (đặc biệt chú ý các nhiễm khuẩn ở tai mũi họng, răng, viêm phế quản mạn).
Trong bệnh Biermer thấy có vi khuẩn trong dạ dày(do nồng độ a xít dịch vị thấp nên vi khuẩn phát triển ). Vai trò của Helicobacter polyri trong viêm dạ dày mạn và loét HTT đang được chú ý nhiều.
Người ta thường thấy viêm dạ dày mạn xảy ra cùng với loét dạ dày, loét hành tá tràng, bênh đại tràng chức năng, táo bón, nhiễm khuẩn ruột, túi mật viêm, trào ngýợc dịch mật vào dạ dày, viêm miệng nối dạ dày - hỗng tràng, ung thư dạ dày ...
- Suy dinh dưỡng: thiếu Fe, thiếu B12, thiếu a xít folic, vitamin C, vitamin PP, thiếu protein.
- Rối loạn nội tiết: trong suy yếu tuyến yên, bệnh Hashimoto, thiểu năng cận giáp, bệnh Addison, bệnh đái đường…
- Dị ứng: Một số bệnh ngoài da (mày đay, eczema, licben…) hoặc do ăn uống
- Yếu tố miễn dịch: mới đây phát hiện thấy có các kháng thể kháng tế bào thành, kháng yếu tố nội sinh (chỉ thấy trong bệnh Biermer), song cơ chế bệnh lý chưa rõ.
- Các rối loạn tâm lý rối loạn thần kinh thực vật, có thể gây nên viêm dạ dày và rối loạn tiêu hoá.
- Yếu tố di truyền: thấy rõ hơn cả trong bệnh Biermer (Hấp thu B12 kém )


Nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp tính
Nguyên nhân gây viêm dạ dày cấp có nhiều, song có thể xếp vào hai nhóm chính:
Yếu tố ngoại sinh thường gặp
- Vi khuẩn, virut và độc tố của chúng
- Thức ăn nóng quá, lạnh quá, khó tiêu, nhai không kỹ hoặc bị nhiễm khuẩn nhiễm độc do tụ cầu, coli, rượu, chè, cà phê, mù tạt...
- Thuốc: aspirin, APC, natri salicylat, sulfamid, corntancyl, phenylbutazon, reserpin, digitalis, KCl...
- Các chất ăn mòn: muối, kim loại nặng (đồng, kẽm), thuỷ ngân, kiềm, acid sulfuric, acid chlohydric, nitrat bạc
- Các kích thích nhiệt, dị vật...
Các yếu tố nội sinh
Gặp trong các bệnh sau:
- Các bệnh nhiễm khuẩn cấp (cúm, sởi, bạch hầu, thương hàn, viêm phổi, viêm ruột thừa..., tăng áp lực tĩnh mạch cửa, thoát vị hoành)
- U rê máu cao, tăng thyroxin, tăng đường máu
- Bỏng, nhiễm phóng xạ, các stress nặng, chấn thương sọ não, u não, sau phẫu thuật thần kinh, tim, shock, bệnh tim phổi cấp, xơ gan
- Dị ứng thức ăn: tôm, sò, ốc, hến...
Triệu chứng của người bị viêm dạ dày

Người bị viêm dạ dày có thể không có biểu hiện lâm sàng dễ nhận biết. Những biểu hiện thường gặp: đau vùng thượng vị, đau âm ỉ, có trường hợp đau cồn cào, nóng rát không theo một quy luật thời gian nào cả, đau liên tục, kèm theo là triệu chứng đầy bụng, ậm ạch, khó tiêu.
Thậm chí trong trường hợp tổn thương nặng có thể bị buồn nôn, nôn khan. Nếu vừa ăn xong bị nôn ngay, nôn ra hết được người bệnh lại cảm thấy rất dễ chịu.
Những người bị ợ dịch chua là do tổn thương lâu ngày làm ứ đọng dịch và gây trào ngược dịch, trường hợp này thường đã ở giai đoạn viêm dạ dày mạn tính.
Các triệu chứng khác
-  Ợ hơi: có thể làm dịu cơn đau một chút hoặc không hết đau
-  Nôn hoặc buồn nôn: dịch nôn ói có thể trong, xanh, vàng, có tia máu hoặc toàn máu tùy theo độ trầm trọng của viêm dạ dày
-  Cảm giác đầy hơi, lình bình ở thượng vị
-  Ơ những trường hợp nặng: có thể có chảy máu trong dạ dày. Các triệu chứng thường là:
    +  Tái xanh, toát mồ hôi, tim đập nhanh
    +  Ngất xỉu, khó thở
    +  Đau ngực hoặc đau nhiều vùng dạ dày
    +  Ói nhiều máu
    +  Tiêu phân đen, dính, hôi
Chẩn đoán viêm dạ dày nói chung
Triệu chứng lâm sàng: thường sau khi ăn, vùng thượng vị cảm thấy đau, tức hoặc nóng rát, ăn kém, bụng đầy, chướng hơi, hễ ợ hơi được thì dễ chịu hoặc buồn nôn, nôn, ợ chua...
Dạ dầy viêm thể teo thường ăn uống rất kém, bụng đầy, đau âm ỉ và cơ thể suy nhược. Dạ dày viêm thể phì đại thường có triệu chứng đau kéo dài, thức ăn và loại thuốc có tính kiềm có thể làm giảm đau nhưng đau không có chu kỳ, thường kèm rối loạn tiêu hóa, có thể gây xuất huyết.
Nên phối hợp với nhưng phương pháp hiện đại như chụp X.quang, Nội soi... để xác định cho rõ hơn
Nguyên tắc dinh dưỡng cho người viêm dạ dày
Khi bộc phát bệnh viêm dạ dày mãn tính, yếu tố “ẩm thực” chiếm một vị trí rất quan trọng. Vì thế hình thành một thói quen ăn uống tốt là liệu pháp để trị liệu bệnh này. Đây là điểm khác biệt trong điều trị bệnh này so với các bệnh khác. Tóm lại, khi ăn uống cần chú ý những điểm sau:
1. Ăn chậm nhai kỹ, như thế có thể giảm thiểu đi thức ăn thô, cứng gây kích thích niêm mạc dạ dày.
2. Sinh hoạt, ăn uống nên có quy luật, kỵ ăn nhanh uống nhanh và không đúng giờ giấc.
3. Chú ý vệ sinh thực phẩm, kiên quyết không để cho vi sinh vật ở thế giới bên ngoài xâm nhập và làm nguy hại đến niêm mạc dạ dày.
4. Dung nạp những thực phẩm giàu chất dinh dưỡng nhưng thanh đạm, ít ăn thực ăn chứa nhiều chất béo, cay, ngọt, hạn chế uống rượu và trà đặc.
Đối với những người bị viêm dạ dày mãn tính trầm trọng, đặc biệt là viêm dạ dày do thu co, chỉ dựa vào biện pháp ăn uống để cải thiện là không đủ mà nên phối hợp với phương pháp trị liệu bằng thuốc  và đi khám bệnh thường xuyên.
_______________________________________________________
Bạn từng có vấn đề về sức khỏe như Huyết áp, tiểu đường, tim mạch, sỏi thận – sỏi mật, gút, viêm loét, thần kinh tọa, tai biến, ung thư …

Bạn từng mệt mỏi vì điều trị tại các Chuyên khoa- Bệnh viện lớn, Tốn rất nhiều tiền, dùng thuốc Đông – Tây Y nhưng kết quả vẫn không được như mong đợi.

Hãy một lần thử với dòng sản phẩm NONI JUICE của tập đoàn Quốc Tế TAHITIAN NONI INTERNATIONAL của Mỹ.

LÀM THẾ NÀO ĐỂ BẠN CÓ MỘT SỨC KHỎE TUYỆT HẢO VÀ KHÔNG BAO GIỜ CÒN PHẢI LO LẮNG VỀ BỆNH TẬT CỦA MÌNH NỮA – SẢN PHẨM NONI JUICE CỦA TẬP ĐOÀN QUỐC TẾ TAHITIAN NONI SẼ GIÚP ĐƯỢC CHO BẠN. Mời vào xem ngay: http://www.BiQuyetSucKhoeTuyetHao.com
Đọc tiếp →

Các bài thuốc trị viêm loét dạ dày - tá tràng

Viêm loét dạ dày - tá tràng là một bệnh rất thường gặp, do nhiều nguyên nhân gây nên. Theo y học cổ truyền (YHCT), bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng thuộc phạm vi chứng vị quản thống với các thể: vị âm hư suy, tỳ vị hư hàn và can khí phạm vị. Trong bài viết này chúng tôi xin giới thiệu một số bài thuốc YHCT có hiệu quả tốt trong điều trị viêm loét dạ dày - tá tràng thể tỳ vị hư hàn và vị âm hư suy.
Thể tỳ vị hư hàn
Liên kiều.

Triệu chứng: Đau vùng thượng vị liên miên, nôn nhiều, mệt mỏi, thích xoa bóp và chườm nóng, đầy bụng, nôn ra nước trong, sợ lạnh, tay chân lạnh, đại tiện phân nát, có lúc táo, rêu lưỡi trắng, chất lưỡi nhợt, mạch hư tế.
Phương pháp chữa: Ôn trung kiện tỳ (ôn bổ tỳ vị, ôn vị kiện trung).
Bài 1: Bố chính sâm 12g, bán hạ chế 6g, lá khôi 20g, sa nhân 10g, gừng 4g, trần bì 6g, nam mộc hương 10g. Sắc uống ngày một thang.
Bài 2: Hoàng kỳ kiến trung thang gia giảm: hoàng kỳ 16g, quế chi 8g, sinh khương 6g, bạch thược 8g, cam thảo 6g, đại táo 12g, hương phụ 8g, cao lương khương 6g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Nếu đầy bụng, ợ hơi (khí trệ) thêm chỉ xác, mộc hương mỗi thứ 6g, trong bụng óc ách nước, nôn ra nước trong bỏ quế chi, thêm bán hạ chế 8g, phục linh 8g.
Bài 3: Hương sa lục quân tử thang hợp Lý trung thang gia giảm: đảng sâm 9g, bạch truật 9g, bán hạ 9g, phục linh 12g, trần bì 6g, can khương 4g, ngô thù 4g, mộc hương 6g, cam thảo 6g, sa nhân 6g.
- Nếu hàn nhiều gia nhục quế 4g, nếu khí hư nhiều gia trích hoàng kỳ 12g.
Thể vị âm hư suy
Triệu chứng: Vùng thượng vị đau âm ỉ, không muốn ăn, miệng khô, đại tiện táo, lưỡi đỏ khô, mạch tế hoặc tế sác.
Pháp điều trị: tư dưỡng vị âm.
Bài 1: Sa sâm mạch đông thang hợp Thược dược cam thảo thang: sa sâm 12g, mạch môn đông 12g, ngọc trúc 9g, thạch hộc 12g, bạch thược 12g, cam thảo 6g, phật thủ 9g. Sắc uống ngày 1 thang.
- Nếu âm hư nhiều - trường hợp thiểu toan của dạ dày có thể gia sơn tra 10g, ô mai 10 quả, mộc qua 6g.
- Nếu kết quả sinh thiết thấy niêm mạc dạ dày loạn sản ruột, trường hợp tăng sinh không điển hình gia nga truật 12g, bạch hoa xà thiệt thảo 20g, bán chi liên 20g.
- Nếu viêm dạ dày cấp và loét trợt xuất huyết gia liên kiều 12g, bồ công anh 20g, phù dung diệp 12g.
Bài 2: Nếu thiểu toan dạ dày có thể dùng bài Ô mai hoàn: ô mai 10 quả, hoàng bá 18g, phụ tử chế 8g, hoàng liên 8g, quế chi 6g, can khương 6g, tế tân 6g, đương quy 8g, đảng sâm 12g, xa tiền 10g. Sắc uống ngày 1 thang.         
Nguyên nhân - cơ chế bệnh sinh theo YHCT
- Do tình chí bị kích thích, dẫn đến can khí uất kết mất khả năng sơ tiết, làm rối loạn khí cơ thăng thanh giáng trọc của tỳ vị mà gây ra các triệu chứng đau vùng thượng vị, ợ hơi, ợ chua... u uất buồn giận thương tổn can, can khí mất sơ thông, hoành nghịch phạm vị, tạo thành can vị bất hòa. Vị khí không thông giáng thì buồn nôn, nôn, ợ hơi. Can khí uất lâu hóa hỏa, hỏa tà thương tổn âm dẫn tới đau tăng lên.
- Hoặc do ăn uống thất thường, ăn nhiều các chất chua cay... làm tỳ vị bị tổn thương mất khả năng kiện vận, hoặc do tiên thiên bất túc (tỳ vị hư) hàn tà nhân đó xâm nhập vào gây khí trệ, huyết ứ mà sinh ra các cơn đau.  
ThS. BS. Trần Thái Hà
Đọc tiếp →

Các thuốc điều trị viêm loét dạ dày

Trong gần 30 chục năm trở lại đây, đã xuất hiện thuốc điều trị loét dạ dày tá tràng ngày càng nhiều, ngày càng hiệu quả hơn. Nhờ đó mà quan điểm và phương pháp điều trị đã thay đổi hẳn, từ một bệnh chủ yếu điều trị bằng ngoại khoa, đã trở thành một bệnh chủ yếu điều trị bằng nội khoa. 
Có thể nói, đây là một bước ngoặt, một tiến bộ rất lớn trong điều trị loét dạ dày tá tràng. Những trường hợp loét dạ dày tá tràng phải mổ ngày càng ít dần đi, chỉ dành cho những trường hợp loét có biến chứng như chảy máu, thủng hay hẹp môn vị. Chúng ta hy vọng rằng, ngay cả những trường hợp có biến chứng này trong tương lai sẽ ngày càng ít đi và tiến tới không còn nữa, nếu bệnh loét được phát hiện sớm, điều trị kịp thời bằng những thuốc đầy hiệu quả như ngày nay.untitled.jpg
Tính hiệu quả cao của những thuốc đó, cộng thêm sự hiểu biết ngày càng sâu hơn về vi khuẩn Helicobacter Pylory (H.P), nguyên nhân chính gây nên viêm loét dạ dày, sẽ làm cho hiệu quả điều trị nội khoa bệnh loét đạt đến đỉnh cao ngoài sức tưởng tượng. Biện pháp phẫu thuật chỉ còn để dàng cho những trường hợp rất hãn hữu, ngoại lệ mà thôi. Có thể nói, với sự xuất hiện của thuốc cimetidin đầu tiên, đã mở ra một thời đại mới trong điều trị hết sức hiệu quả bệnh loét dạ dày tá tràng, chẳng khác nào sự xuất hiện của Penicilline, đã mở ra một kỷ nguyên mới của kháng sinh điều trị các bệnh nhiễm trùng.
Nếu kể tên các biệt dược thuốc chống viêm loét thì rất nhiều, không sao kể hết. Tuy nhiên, chúng có thể được xếp vào các nhóm dưới đây:
I. Các thuốc chống acide chlorhydrique:
Chúng trung hòa ion H của HCL, làm cho pH tăng trên 3, đặc biệt làm thay đổi tính acide (khả năng gây loét) trong khi pH không thay đổi nhiều, khả năng này gọi là khả năng đệm.
Có hai loại thuốc chống acide:
1. Thuốc chống acide ion (-) (anion) tác dụng trung hòa nhanh, mạnh nhưng không có khả năng đệm. Ví dụ; Cacbonate Canxi, Natri, Cacbonate monosodique vv... Hiện nay ít dùng trong các trường hợp viêm cấp, hoặc rối loạn cơ năng dạ dày, chỉ dùng trong 1 hoặc 2 ngày.
2. Thuốc chống acide ion (+) (cation): Các thuốc này có khả năng đệm tốt. Đó là các muối của Aluminium (Phosphate, Trisilicate, Hydroxyde), ví dụ: Maalox, Polisilane gel, Phossphalugel, Gasterine, Barudon... Trong Barudon có chứa Hydroxyde, Aluminium, Magnesium, và oxthazaine,  oxthazaine có tác dụng làm tê tại chỗ như Lidocaine nhưng mạnh hơn, an toàn hơn. Loại thuốc này cần uống nhiều lần trong ngày để duy trì pH luôn luôn trên 3 - 3,5 dùng sau khi ăn, không được dùng trước ăn, sẽ gây tác dụng ngược lại. Các thuốc này có tác dụng ngăn cản hấp thụ các thuốc khác, do đó thuốc thứ 2 phải uống sau thuốc chống acide ít nhất 2 giờ.
II. Các thuốc tạo màng bọc:
Những thuốc này có khả năng kết dính với dịch nhày dạ dày thành một màng bao bọc niêm mạc dạ dày và đáy ổ loét, tuy nhiên chúng cũng có tác dụng trung hòa acid, nhưng yếu hơn thuốc chống acid, đó là:
Silicate Al (Kaolin, smecta)
Silicate Mg (gastropulgite...)
Bismuth: Subcitrate Bismuth (Trymo) hay CBS.
Ngoài tác dụng tạo màng bọc, nó còn có tác dụng diệt H.P.
Liều lượng: 120mg/lần x 4 lần/ngày, dùng trong 30 ngày, sau đó phải dừng.
Sucralfatre (Ulcar, Keal, Sucrate gel, Sucrabest...): Đó là muối Aluminium của Sucrose octa sulfat. Khả năng gắn với protein của dịch nhày rất chắc, không bị mật phá hủy, ngăn chặn tái hấp thu H+ và kích thích sản xuất prostaglandine, do đó được dùng nhiều hơn.
Liều lượng: 1gr/lần x 3, 4 lần/ngày, dùng trước khi ăn.
prostaglandine: chỉ dùng loại prostaglandine E1 và E2, chúng có các tác dụng như:
  • Chống bài tiết acide: không mạnh.
  • Kích thích tiết nhày và bicacbonate, tăng dòng máu đến dạ dày.
  • Người ta ít dùng prostaglandine trong điều trị loét, mà hay dùng đề phòng loét dạ dày tá tràng khi dùng thuốc chống viêm không Steroide hoặc Aspirine.
Biệt dược: Misoprostol (Cytotec), Enprostol
Liều lượng:
  • 200 mg/lần x 4 lần/ngày hoặc
  • 400 mg/lần x 2 lần/ngày trong khi ăn và trước khi ngủ.
III. Các thuốc chống bài tiết ức chế thụ thể H2:
Cimetidin (Cimet, Tagamet) đưa vào thị trường đầu tiên vào năm 1978, đến nay đã có nhiều thế hệ thuộc nhóm thuốc này, những thế hệ thuốc càng về sau, tác dụng càng mạnh hơn, tác dụng phụ càng ít hơn, do đó liều lượng dùng cũng ít hơn.
Một số thông số dược động học của thuốc anti H2
Tên thuốc
Thời gian hấp thu Max (giờ)
% hấp thu
Thời gian nửa đời T/2 (giờ)
Tương tác
Cimetidin
1 - 1,5
63 - 78
1,7 - 2,1
+++
Ranitidine
1 - 3
49 - 65
2,1 - 3,1
+
Nizatidine
<2
>90
1 - 2
0
Famotidine
2 - 4
37 - 45
1,5 - 4,5
0
Liều lượng và cách dùng thuốc chống H2
Tên thuốc
Khoảng liều
Dạng thuốc
Cách dùng
Ghi chú
Cimetidin
400 - 800mg
Viên nén:200, 300, 400mg
Tiêm: 300mg/2ml
Uống một lần vào buổi chiều, tốt hơn uống nhiều lần
Tăng men Transaminase, vú to
Ranitidine
150 - 300mg
Viên nén: 150 - 300mg
Tiêm: 50mg/2ml
Uống một lần  vào buổi chiều
ít hơn cimetidine
Nizatidine
20 - 40mg
Viên nén: 10, 20, 30mg
Tiêm: 50mg/2ml
Uống một lần  vào buổi chiều
Không
Famotidine
30 - 40mg
Viên nén: 20 - 40mg
Uống một lần  vào buổi chiều
Không
Ghi chú: Coca thuốc trên đây, ngoài tác dụng điều trị loét còn dùng điều trị chứng trào ngược, tăng acide hoặc để dự phòng loét tái phát.
Famotidine có nhiều tên gọi khác nhau: Servipep, Quamatel...
IV. các thuốc ức chế bơm proton:
ức chế men H+/K+ ATPase làm cho tế bào bìa không bơm H+ ra ngoài, nghĩa là không còn tiết dịch HCL nữa. Trong nhóm này có nhiều biệt dược khác nhau:
Lanzoprazole (Lanzor, Ogast, Prevacide...); Omeprazole (Omeprazole, Mopral, Zoltum, Losec...); Pantoprazole (Pantoprazole, Eupantol, Inipomp...); Rabeprazole (Pariet...); Esomeprazole (Inexium, Nexium, Leziole)
Dược động học của một số thuốc
Tên thuốc
Thời gian hấp thu Max (giờ)
% hấp thu
Thời gian nửa đời T/2 (giờ)
Tương tác
Omeprazole
60
95
1/2 - 1
ức chế men gan
Lanzoprazole
85
97
1 - 4
Kích thích men gan
Pantoprazole
70 - 80
98
1 -
Không
 Liều lượng và cách dùng
Tên thuốc
Khoảng liều
Dạng thuốc
Cách dùng
Tương tác
Lanzoprazole
15 - 30 mg
Viên nang
15, 30 mg
Uống một lần, 4 - 6 tuần
Kích thích men gan +
 
 
Omeprazole
 
20 - 40 mg
 
 
 
40 mg
Viên nang
20, 40 mg
 
 
Tiêm: 40 mg/ống
Uống một lần, 4 - 6 tuần
Trẻ em > 1+ = 1 mg/kg
Không quá 20 mg/ngày
 
Tiêm chậm 5 phút
Không quá 4 ml/phút
Kích thích men gan +++
 
 
Không dùng cho trẻ em
Pantoprazole
40 mg
Tiêm: ống/40 mg
Viên nang: 20, 40 mg
Tiêm chậm IV: 2 - 3 phút
Uống một lần, 4 - 8 tuần
 
Rabeprazole
20 mg
Viên nén: 10, 20 mg
Uống một lần, 4 - 8 tuần
 
Esomeprazol
20 - 40 m
Viên nén, viên nang: 20 - 40 mg
Uống một lần, 4 - 8 tuần
 
Ghi chú:
  • Ngoài tác dụng chống loét, các thuốc trên còn được dùng trong chứng trào ngược dạ dày thực quản, rất có tác dụng.
  • Coca thuốc trên còn dùng điều trị diệt HP, thường phối hợp với Amoxicilline, Clarithromycine và Metronidazole.
V. Các thuốc khác:
Mucosta hoặc Rebamipide là một hợp chất được lựa chọn từ các chất tương tự Amino acide của 2 (aH) - Quinolone. Nó có tác dụng kích thích niêm mạc dạ dày tiết ra Prostaglandine, cải thiện chất lượng của chất nhày dạ dày bằng cách làm tăng thành phần Glycoprotein, ức chế sự bám dính của HP vào niêm mạc dạ dày, ức chế bạch cầu trung tính sản sinh Cytokine, ức chế sản xuất các Interleukine 8... Do đó, nó có tác dụng làm lành ổ loét, ngăn ngừa loét tái phát, đồng thời làm giảm triệu chứng viêm của các đợt viêm dạ dày cấp từ viêm dạ dày mạn, ngăn ngừa loét dạ dày tá tràng do các thuốc chống viêm không Steroide.
Có thể dùng đơn độc hoặc phối hợp với các thuốc ức chế H2 hoặc thuốc chống acide, thuốc tạo màng bọc.
Liều lượng: Viên nén 100mg x 3 lần/ngày.
Thuốc hầu như không có tác dụng phụ
Selbex trong đó chứa Teprenone có tác dụng kích thích dạ dày tiết chất nhày. Thực nghiệm trên chuột cho uống Ethalol sau khi đã được dùng Selbex và không dùng Selbex ở 2 nhóm chuột, nhóm được dùng Selbex trước thì tổn thương dạ dày không đáng kể so với nhóm không được dùng Selbex có tổn thương ở niêm mạc dạ dày rất rõ. Nó được sử dụng phối hợp với các thuốc dạ dày khác để làm tăng tỷ lệ liền sẹo và liền sẹo nhanh hơn, làm giảm đáng kể tỷ lệ loét tái phát, làm giảm các tổn thương viêm dạ dày cấp. Thuốc có rất ít tác dụng phụ.
Liều lượng: Mỗi viên nang chứa 50 mg Teprenone, uống 3 viên/ngày sau mỗi bữa ăn. Không nên dùng cho trẻ em và phụ nữ có thai vì chưa có thông tin đầy đủ.
GS. TS. Nguyễn Khánh Trạch
Đọc tiếp →

Sử dụng thuốc điều trị viêm dạ dày - tá tràng ở phụ nữ có thai

Khi có thai, người phụ nữ thường phải đối mặt với một số rắc rối không nhỏ trong cơ thể do sự thay đổi sinh lý, nội tiết. Trong đó có các biểu hiện ở đường tiêu hóa như buồn nôn, nôn khan, đau tức vùng thượng vị, đầy hơi... các triệu chứng của bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng.
 

Hầu hết các thuốc đều có ảnh hưởng đến sức khỏe bà mẹ và thai nhi nên cần phải rất thận trọng, cân nhắc kỹ giữa lợi ích và nguy cơ khi dùng thuốc. Phần lớn, thuốc từ máu mẹ có thể thấm qua nhau thai vào máu gây hại cho thai.

3 tháng đầu thai kỳ: Là giai đoạn hình thành các cơ quan (tim, thần kinh trung ương, tay, chân...). Một số thuốc cản trở sai lệch quá trình này gây ra dị tật, quái thai.

3 tháng giữa thai kỳ: Giai đoạn trưởng thành và hoàn thiện. Giai đoạn này thai ít nhạy cảm với thuốc nên ít bị gây hại. Tuy nhiên vẫn có những bộ phận tiếp tục biệt hóa như hệ thần kinh và sinh dục bên ngoài nên thuốc có thể gây hại cho các bộ phận này.

3 tháng cuối: Là giai đoạn các bộ phận của thai đã hình thành đầy đủ nhưng chưa hoàn thiện như gan chưa làm tốt chức năng chuyển hóa, thận chưa làm tốt chức năng đào thải. Trong khi đó nhau thai đã thay đổi (mỏng đi) nên nhiều thuốc có thể thấm ồ ạt vào thai. Giai đoạn này thuốc gây hại cho thai, cho trẻ sinh ra và cho cả mẹ khi sinh nở.

Trong giới hạn bài này xin lưu ý một số điều khi sử dụng thuốc chữa các triệu chứng như viêm loét dạ dày - tá tràng.

Nôn, buồn nôn: Không nên tự ý dùng thuốc chống nôn domperidon. Tuy thuốc không gây dị dạng thai nhưng lại có thể gây hiện tượng nhịp tâm thất nhanh làm nguy hiểm đến tính mạng người mẹ. Nếu nôn nhiều có thể cho thuốc chống dị ứng nhóm kháng histamin.

Thuốc giảm đau: Hiện nay, tuy chưa có dữ liệu đủ xác đáng và có giá trị để đánh giá tác dụng gây dị dạng hoặc độc với thai của nhóm trimebutine khi sử dụng trong thai kỳ. Do vậy, vì lý do an toàn thận trọng không dùng trong 3 tháng đầu của thai kỳ. Trong giai đoạn sau của thai kỳ cũng chỉ sử dụng khi cân nhắc thấy thật sự cần thiết.

Thuốc thuộc nhóm chống acid, không gây tăng tiết acid trở lại, bảo vệ niêm mạc thực quản, dạ dày (aluminium).

Chất đệm kháng acid tác dụng nhanh, kéo dài đưa dịch tiết dạ dày trở về nồng độ acid sinh lý. Các tính chất này làm giảm cơn đau dạ dày.

Về mặt lâm sàng, theo dõi việc sử dụng thuốc chống acid trên thai phụ chưa thấy biểu hiện gây quái thai, dị dạng do tác động của thuốc. Do vậy có thể sử dụng thuốc nhóm này cho thai phụ nếu cần.

- Thuốc thuộc nhóm ức chế bơm proton (PPI) chỉ sử dụng ở phụ nữ mang thai nếu thật cần thiết.

Một số nguyên tắc khi dùng thuốc cho người có thai:

- Người có thai tốt nhất là không dùng thuốc khi không cần thiết.

- Khi vì điều kiện bắt buộc phải dùng thuốc kể cả với thuốc không nằm trong danh mục thuốc phải kê đơn cũng cần có chỉ định, theo dõi của thầy thuốc, không nên tự ý dùng. Bởi tính an toàn này là tương đối và chỉ có được khi dùng đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc.

- Khi bắt buộc phải dùng thuốc nên dùng liều thấp vừa đủ chữa bệnh không nên nôn nóng muốn khỏi ngay, không dùng liều cao.

 Theo Báo SK&ĐS
Đọc tiếp →

Tại sao thuốc điều trị viêm loét dạ dày: Dùng nhiều mà vẫn lâu khỏi?

Viêm loét dạ dày, tá tràng thường phải điều trị kéo dài với sự kết hợp của nhiều loại thuốc cùng lúc. Do đó, thiếu kiên nhẫn chỉ khiến bệnh càng lâu khỏi.
Viêm loét dạ dày là căn bệnh phổ biến ở mọi lứa tuổi, nhưng viện điều trị thường gặp khó khăn do tíhn chất của bệnh dai dẳng làm tâm lý người bệnh lo âu, căng thẳng khiến bệnh càng lâu khỏi, thâm chí còn nặng hơn. Mặc dù bệnh diễn biến lành tính nhưng biến chứng nguy hiểm nhất của nó -ung thư dạ dày-khiến không ít người "nơm nớp" lo sợ. Anh Phạm Trung Kiên,  ở Thái AN, Thái Thuỵ, Thái Bình đã nhiều lần cất công lên Hà Nội để chữa dứt điểm căn bệnh này. Nghe đến những trường hợp bị ung thư dạ dày do  viêm loét dạ dày lâu năm, anh lo lắm. Lo thì lo nhưng anh vẫn không bỏ được thói qune ăn đồ cay, nóng và uống bia rượu. thế nên dù đã tốn hàng "núi" thuốc những chỉ điều tị được một thời gian bệnh lại tái phát...

Rượu là một tác nhân gây nên loét dạ dày


Nguyên nhân của bệnh viêm dạ dày ta tràng thường là do người bệnh dùng quá nhiều rượu, bia, ăn quá no hoặc thức ăn có nhiều gia vị; sử dụng các loại thuốc có hại cho niêm mạc dạ dày như: aspirin, các loại thuốc kháng viêm nonsteroid, nhiễm vi khuẩn helicobacter pylori (HP), virus, nấm, stress, sau một chấn thương nặng, ca mổ lớn, bỏng hoặc nhiễm trùng nặng, trào ngược dịch mật...

Hầu hết các loại thuốc chữa viêm loét dạ dày-tá tràng có nguồn gốc hoá dược nên đều gây cảm giác buồn nôn, trướng bụng, nhức đầu, mất vị giác, ăn uống không thấy ngon cho người bệnh. Có người hoang mang vì không tìm thấy được sự tư vấn tốt đã bỏ thuốc giữa chừng, làm cho bệnh kháng thuốc, trầm trọng thêm.

Trước đây, mọi người thường quan niệm "không có acid dịch vị, không có viêm loét" tức là nếu hạn chế được việc tiết dịch vị thì sẽ không còn viêm loét nữa. Ngày nay, cơ chế sinh bệnh này được cho là do sự mất cân bằng giữa yếu tố tấn công (acid clohydric, pepsin, rượu, vi khuẩn helicobacter pylori...) và yếu tố bảo vệ (niêm bạc, màng nhầy, bicarbonat, dòng máu, yếu tố tăng trưởng, prostaglandin...). Dựa trên cơ chế đố các nhóm thuốc đièu trị đều nhằm mục đích phục hồi trạng thái cân bằng: loại trừ các yếu tố tấn công, đồng thời tăng cường yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày.

Các nhóm thuốc chống tấn công:

Thuốc kháng Acid (anacid): Hiện nay, tốt nhất là hỗn hợp hai chất hydroxit magie (tác dụng nhuận tràng) và hydroxit nhôm (tác dụng gây táo bón) với nhau trong một sản phẩm để hạn chế tác dụng phụ của mỗi loại. Các chếp hầm này tương đối an toàn, vừa ít hấp thu lại niêm mạc dạ dày ruột, vừa có tác dụng trung hoà HCL, mạnh như: maalox, gasttrofulgit, phosphalugel, nolgel...

Thuốc kháng thụ thể H2 của hítamin: Có tác dụng ức chế tiét chọn lọc các thụ thể H2 ở màng đáy bên của té bào thành dạ dày, ức chế tiét dịch acid cơ bản (khi đói) và cả tiết dịch acid do kích thích của thức ăn, caffein, insulin...Lượng men tiêu hoá pepsin do dạ dày tiết ra cũng giảm theo.

Thuốc ức chế "bơm prôtn" (PPI): với các chất lansoparazol, pantoprazol, rabeprazol, omeprazol, là dẫn xuất của benzinmidazol được gắn vào vị trí khác nhau của "bơm", tạo nên sự khác nhau về cường độ tác dụng. Tác dụng chống tiết mạnh và kéo dài. Giảm tiết acid cơ bản và acid tạo ra do các nguồn kích thích như: ăn, stress.

Nhóm thuốc chuyên bảo vệ

Loại thuốc này kích thích tiết ra chất nhầy, đồng thời làm tăng sinh tế bào mới ở niêm mạc và tăng cường máu đến niêm mạc dạ dày. Trong đó, thuốc prrótaglandin kích thích tái tạo niêm mạc, tăng tiết nhầy, còn sucralfat làm chất nhầy dính chặt vào niêm mạc, băng ổ loét (được sử dụng rất tốt trong trường hợp trào ngược mặt), bismuth dạng keo sẽ che phủ, bảo vểô loét chống loại acid và pepsin của dịch vị.

Ngoài ra, nhóm thuốc an thần (librax, gastrobâmt, sulpirid), thuốc tiêm, thuốc chống stress, chống co thắt giảm đau cũng được sử dụng để hỗ trợ, giảm bớt cơn đau do viêm loét dạ dày gây ra.

Nguyên tắc khi dùng thuốc

Với nhóm bệnh nhân loét dạ dày, tá tràng không do nhiễm HP cần ngưng các thuốc gây loét sau đó mới điều trị với các thuốc chống loét (kháng acid, chống tiết acid, bảo vệ niêm mạc).

Đối với nhóm viêm loét dạ dày do nhiễm HP, chủ yếu điều trị theo phác đồ để tiệt trừ HP với thuốc chống loét kết hợp với thuốc kháng sinh. Tuy nhiên, hiện việc dùng kháng sinh diệt HP chưa được tuân thủ đúng theo phác đồ. Phác đồ cũng chưa được phổ biến rộng rãi, nhều người bệnh chỉ dùng đơn thuần thuốc giảm acid dạ dày hoặc thay đổi chế độ ăn. Ngoài ra, việc lạm dụng các loại thuốc kháng sinh dùng chữa các bệnh khác cũng khiến HP nhờm thuốc.

Việc sử dung quá nhiều các nhóm thuốc dung fmột lúc trong điều trị có thể xảy ra do những tương tác không có lợi về mặt hiệu quả. Do đó, cần tuân thủ đúng chỉ định đối với mỗi loại thuốc, cách dùng trong ngày...để hạn chế đến mức thấp nhất các tác hại do tương tác của thuốc gây ra, nhất là thuốc nhóm antacid.

Lạm dụng thuốc muối

Một số người bệnh có thói quen khi lên cơn đau dạ dày dùng ngay thuốc muối (thuốc natricbicacbonat, trong hoà acid) và lập tức thấy đỡ hẳn. Vì vậy, họ thích dùng, thậm chí còn dùng thường xuyên không cần biết liều lượng. Nhưng đây chỉ là thuốc chữa triệu chứng tăng acid chứ không phải là thuốc chữa nguyên nhân viêm dạ dày. Khi dùng nhêìu, thường xuyên thì lượng acid bị giảm mạnh, khiến cơ thể phản ứng lại bằng cách tiét acid ra nhiều hơn. sẽ cnàg làm cho mội trường dạ dày càng bị acid hơn. Thêm vào đó, phản ứng trung hoà trực tiếp này còn tạo ra khí carbonic làm đầy hơi, khó tiêu...

Có thể nói, điều trị viêm dạ dày nếu chỉ dùng thuốc thôi vẫn chưa đủ vì thuốc chỉ giúp làm chóng lành những tổn thương ở niêm mạc dạ dày chứ không giúp loại bỏ những nguyên nhân (ngoại trừ các nguyen enhân có thể diệt được bằng thuốc như vi khuẩn, nấm...). Trên thực tế, người bệnh giữ vai trò rất quan trọng trong việc tìm ra nguyên nhân và đặc biệt là loại bỏ nguyên nhân của viêm dạ dày (kiêng rượu bia, cà phê, thuốc lá, giảm stress...). Nên nhớ, viêm dạ dày là bệnh có thể tái phát, lúc đó điều trị sẽ phải làm lại từ đầu và kéo dài.

Theo Sức khoẻ gia đình
Đọc tiếp →